Cần cân nhắc điều gì khi huy động vốn kinh doanh thông qua thương hiệu và sáng chế?

Trước sự phát triển của thời đại khoa học công nghệ, vốn đầu tư không chỉ tập trung vào tài sản hữu hình mà còn tập trung vào tài sản vô hình như thương hiệu và phát minh công nghiệp.

Điều này đã được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp và trong Sở hữu trí tuệ, nhưng trên thực tế chưa được cụ thể hóa và còn nhiều bất cập gây khó khăn cho các chủ thể.

Đầu tư vốn mạo hiểm được pháp luật quy định như thế nào?

Về mặt pháp lý, đầu tư vốn là một biện pháp pháp lý mà theo đó một nhà đầu tư vốn chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho một doanh nhân để đổi lấy lợi nhuận từ việc đầu tư vốn.

Khác với tài sản truyền thống, nhãn hiệu và bằng sáng chế là tài sản đặc biệt – tài sản vô hình, đặc biệt là tài sản nên phải được định giá. Nhưng giá trị đích thực về mặt tinh thần và vật chất thì không dễ xác định. Ngoài ra, còn có các vấn đề pháp lý liên quan như: cách thức tặng cho, cách thức đánh giá, chuyển giao nhãn hiệu, sáng chế, đầu tư vốn, thời hạn bảo hộ nhãn hiệu, sáng chế.

Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam không có văn bản chuyên biệt nào hướng dẫn việc góp vốn nhãn hiệu, sáng chế vào công ty nhưng pháp luật thương mại không cấm nhãn hiệu, nhãn hiệu, sáng chế và trên thực tế việc đầu tư vốn này. là khá phổ biến. Việc đầu tư vốn cho nhãn hiệu, sáng chế diễn ra sau khi đăng ký quyền sở hữu.

Đây là điều kiện tiên quyết để đầu tư vốn cho nhãn hiệu, sáng chế. Các khoản đầu tư vốn được thực hiện với nhãn hiệu và sáng chế sau đó được sắp xếp như sau: Đánh giá nhãn hiệu và sáng chế, ký kết hợp đồng đầu tư vốn, chuyển quyền sở hữu nhãn hiệu và sáng chế cho công ty và cấp giấy phép chứng nhận đầu tư vốn.

Những vấn đề cần lưu ý trong việc tham gia vốn thương mại vào nhãn hiệu và sáng chế

Trong quá trình đầu tư vốn đang được xem xét khó tránh khỏi những khó khăn, bất cập cần xem xét:

Cần cân nhắc điều gì khi huy động vốn kinh doanh thông qua thương hiệu và sáng chế?

Vấn đề Định giá nhãn hiệu và bằng sáng chế

Không có dễ dàng thống nhất về định giá tài sản trong việc định giá tài sản tặng cho thực tế, đặc biệt là nhãn hiệu và bằng sáng chế cần tìm. Vì vậy, cần phải thống nhất cấp độ chính xác với người có thẩm quyền khi định giá bất động sản để đảm bảo hạn chế những ảnh hưởng có thể xảy ra đối với bên thứ ba trong hoạt động giữa các bên.

Tất cả các thành viên đều là người thẩm định phần vốn góp. Một tổ chức định giá chuyên nghiệp có thể có thẩm quyền định giá theo yêu cầu của các thành viên, nhưng làm thế nào để đạt được điều này theo các nguyên tắc  không  tranh chấp thì không được xác định.

Theo Thông tư  06/2014/TT-BTC,  03 nhóm phương pháp được sử dụng trong định giá: (i) nhóm phương pháp định giá theo phương pháp giá mua; (ii) nhóm phương pháp định giá sử dụng cách tiếp cận dựa trên thị trường; (iii) Phương pháp thu nhập được sử dụng trong nhóm phương pháp định giá.

Đặc biệt, cách tiếp cận theo nhóm  thu nhập nên được ưu tiên  khi đánh giá các thương hiệu và đổi mới có vốn đầu tư. Nhược điểm của các nhóm phương pháp khác  là không xem xét  giá trị tương lai của nhãn hiệu, bằng sáng chế hoặc nhãn hiệu được áp dụng tại Việt Nam.

Việc quyết định giá trị tài sản góp vốn  được đưa ra thảo luận tại cuộc họp của hội đồng quản trị công ty cổ phần, hội đồng thành viên công ty cổ phần và tất cả các cổ đông của công ty. Định giá tài sản để kết nạp thành viên có nghĩa là những thay đổi đối với quy chế chỉ có thể được phê duyệt nếu lợi ích hợp pháp được đáp ứng.

Luật cũng quy định rằng một công ty có thể thuê một tổ chức định giá chuyên nghiệp để đánh giá giá trị của các khoản tiền được cung cấp dưới dạng vốn. Các quy định của Đạo luật công ty về giám định giá đã tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty định giá tài sản chuyển nhượng.

Đây là điều kiện được các bên cân nhắc: (i) các bên  không nhận thức được giá trị thực của tài sản; (ii) các bên  cố ý phóng đại giá trị thực tế. Trong mọi trường hợp nếu gây  thiệt hại cho người khác thì nghĩa vụ bồi thường vẫn còn. Tuy nhiên, Luật Công ty chưa quy định rõ mối quan hệ giữa trách nhiệm của người đầu tư vốn và thẩm định viên về vấn đề này nên có thể nảy sinh những bất đồng.

Sự không thống nhất trong hạch toán nhãn hiệu và bằng sáng chế

Các vấn đề pháp lý liên quan đến hạch toán tài sản  vô hình hiện đang có hiệu lực theo Thông tư số 45/2013/TT-BTC. Theo khoản 2, tiểu mục b, khoản 1 của bản cáo bạch này, nhãn hiệu hàng hóa là  tài sản cố định vô hình của công ty. Để được ghi nhận là TSCĐ vô hình, nhãn hiệu hàng hóa, sáng chế phải đáp ứng các điều kiện  tại Điều 3 Thông tư số 45/2013/TT-BTC.

Do đó mọi khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra phải đáp ứng các tiêu chí sau: (i) Có khả năng là lợi ích kinh tế tiêu cực sẽ phát sinh từ việc sử dụng tài sản; (ii) đã sử dụng trên 01 năm; (iii) Giá mua ban đầu của hàng hóa phải được xác định một cách đáng tin cậy và  giá trị của hàng hóa ít nhất bằng 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng)  mà không hình thành tài sản cố định hữu hình thì được coi là tài sản cố định vô hình.

Tuy nhiên, Chuẩn mực kế toán  số 04 (ban hành và ban hành theo Quyết định  149/2001/QĐ-BTC) không có nội dung  ghi nhận nhãn hiệu là tài sản cố định vô hình, đây thực sự là một vướng mắc trong công tác kế toán tài sản.

Các công ty nhận đầu tư vốn để thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ khi tính thuế phải phản ánh giá trị vốn đầu tư vào tài sản cố định bằng quyền sở hữu trí tuệ  và loại bỏ nó như một khoản chi phí được tính vào thu nhập doanh nghiệp  từ đầu tư vốn.

Do đó, theo các nguyên tắc kế toán và lập kế hoạch, chỉ các quyền sở hữu trí tuệ gây ra chi phí  mới được xem xét trong vốn đầu tư vào việc thành lập công ty. Ngoài ra, không thể bỏ qua trường hợp các giá trị của cùng một nhãn hiệu, sáng chế được đăng ký tại các công ty khác nhau.

Trong trường hợp này, ai  có thể đánh giá chính xác thương hiệu? Nó mang lại những lợi ích cụ thể gì cho công ty? Doanh nghiệp tăng giá trị thương hiệu bằng vốn đầu tư nghĩ ra nhiều chiêu lách luật? Thực tế này  cũng đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải luật hóa,  định nghĩa và điều chỉnh rõ ràng.

Việc chuyển nhượng và chấp nhận nhãn hiệu liên quan đến đầu tư vốn

Điều 36 của Luật Công ty 2014 quy định về việc chuyển nhượng quyền sở hữu giá trị của quyền sở hữu đã đăng ký hoặc  quyền sử dụng đất, vốn phải hoàn tất việc chuyển nhượng. làm thủ tục để công ty sở hữu tài sản  hoặc quyền sử dụng đất đó tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Nhãn hiệu, sáng chế là tài sản có đăng ký quyền sở hữu, do đó nếu muốn có vốn  thì  phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu  nhãn hiệu, sáng chế  cho công ty chủ sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Về chuyển nhượng quyền công nghiệp theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Việc chuyển  giao quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế được thực hiện dưới hai hình thức: Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu  nhãn hiệu, sáng chế; và các thỏa thuận chuyển nhượng  nhãn hiệu và sáng chế.

Theo Điều 138 khoản 2; và theo Điều 141(2) Luật Sở hữu trí tuệ, thỏa thuận chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế phải được lập thành văn bản và đăng ký với Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam.

Tuy nhiên, quyền  công nghiệp là tài sản vô hình nên không thể giao hoặc nhận dưới dạng hàng hóa hữu hình. Do đó, yêu cầu như vậy là cứng nhắc, bởi vì khi bạn chuẩn bị một giao thức chuyển nhượng nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại và bí mật thương mại, bản thân nó là một tài sản vô hình không có hình thức vật chất. Các bên giao  nhận như thế nào?

Xử lý phần vốn góp nhãn hiệu, sáng chế khi hết thời hạn góp vốn, nhãn hiệu, sáng chế hết thời hạn bảo hộ

Trong Luật doanh nghiệp 2014 tại Điều 54 quy định về xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt như thành viên là cá nhân chết, mất năng lực hành vi dân sự, tổ chức bị giải thể hoặc phá sản, chuyển nhượng vốn góp, tặng cho trả nợ bằng phần vốn góp.

Mà không có bất cứ quy định nào liên quan đến việc xử lý phần vốn góp là giá trị quyền sở hữu trí tuệ khi hết thời hạn bảo hộ hoặc hết thời hạn góp vốn.

Vậy với đặc thù là tài sản vô hình, thời hạn góp vốn phải trong thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu, sáng chế theo khoản 6 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ, thì “giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm”. Khi góp vốn, căn cứ theo thời hạn trong thỏa thuận góp vốn.

Để xác định thời điểm hết hiệu lực của thỏa thuận này, khi góp vốn bằng nhãn hiệu, sáng chế các bên phải lập hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng và đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ.Hợp đồng này coi là căn cứ để xác định thời hạn có hiệu lực của thỏa thuận góp vốn theo thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu.

Nhưng trên thực tế thì thỏa thuận góp vốn không còn hiệu lực, thì người góp vốn bị mất tư cách thành viên hoặc giảm giá trị phần vốn góp, đồng thời công ty phải làm thủ tục giảm vốn điều lệ.

Nếu góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu nhãn hiệu, thì khi hợp đồng (thỏa thuận) góp vốn hết thời hạn, bên nhận vốn góp là giá trị quyền sở hữu nhãn hiệu vẫn tiếp tục sử dụng nhãn hiệu, sáng chế (vì sau khi hoàn tất thủ tục chuyển quyền sở hữu khi góp vốn, bên nhận vốn góp là chủ sở hữu nhãn hiệu, sáng chế đó).

Vậy lúc này, công ty có phải làm thủ tục giảm vốn điều lệ không? Hiện tại Luật Doanh nghiệp  2014 chưa có hướng dẫn về trường hợp này nên nếu phát sinh sẽ rất khó  giải quyết.


Tham khảo thêm về những thương hiệu nhượng quyền khác cùng Nhượng Quyền Việt, xem tại đây!

Để quảng cáo thương hiệu nhượng quyền, đăng tin cho thuê mặt bằng, đăng tin tuyển dụng vui lòng liên hệ với chúng tôi thông qua hello@nhuongquyenviet.vn

Rate this post
Translate »